Tin tổng hợp

Kết quả hoạt động khoa học và công nghệ năm 2016
Năm 2016, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt 52 đề tài, dự án khoa học và công nghệ (KH và CN) thực hiện mới và 19 đề tài, dự án KH và CN cấp tỉnh chuyển tiếp từ năm 2015 với tổng kinh phí khoảng 15.830 triệu đồng, đạt 100% kinh phí đầu tư. Các đề tài, dự án đã tập trung vào việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH và CN vào sản xuất, đời sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Năm 2016, hoạt động KH và CN được triển khai toàn diện trên các mặt công tác, hoàn thành chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra. Một số hoạt động có hiệu quả cao, góp phần đưa nhanh tiến bộ KH và CN vào sản xuất, đời sống, đóng góp tích cực vào các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 

Tiến hành du nhập, khảo nghiệm trên 150 giống lúa, 50 giống ngô mới để bổ sung vào cơ cấu giống cây trồng của tỉnh. Nghiên cứu thành công giống lúa ngắn ngày TBR225 do Công ty Cổ phần Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình chọn tạo, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống quốc gia. Nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ KH và CN mang lại hiệu quả cao như: mô hình ứng dụng công nghệ khí canh để sản xuất giống khoai tây nguyên chủng và giống xác nhận sạch bệnh; sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm ăn, nấm dược liệu quy mô công nghiệp; nuôi ong mật theo hướng sản xuất hàng hóa với 12 quy trình công nghệ nuôi và quy mô hàng trăm đàn; mô hình sản xuất giống lợn lai lợn rừng; mô hình nuôi cá nheo Mỹ; hoàn thiện quy trình nuôi cá bống bớp thương phẩm đạt năng suất 4 tấn/ha/năm; tiếp nhận các quy trình công nghệ được chuyển giao về sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá chim vây vàng và cá hồng đỏ; hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, nâng cao công suất lò đốt rác thải sinh hoạt công suất từ 300 - 700kg/giờ và cải tiến nâng cao hiệu quả xử lý khói bụi của lò đốt rác thải sinh hoạt; nghiên cứu, cải tiến dây chuyền sản xuất sứ dân dụng cao cấp tại Công ty Cổ phần Gạch men sứ Long Hầu; thiết kế, chế tạo hệ thống màng co tự động phục vụ dây chuyền đóng lon công suất 50.000 lon/giờ; mô hình ứng dụng công nghệ mạ khay, máy cấy trong sản xuất lúa tại Thái Bình...; xây dựng, quản lý nhãn hiệu tập thể “Bạc Ðồng Xâm”, “Tỏi Thái Thụy”, “Ngao Thái Bình”, góp phần quảng bá và phát triển thị trường cho một số sản phẩm truyền thống của địa phương.

Tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, ứng dụng điện tâm đồ và siêu âm tim trong chẩn đoán định vị tổn thương động mạch vành. Nghiên cứu, ứng dụng sản phẩm nhỏ giọt dạ dày trong chăm sóc dinh dưỡng người bệnh thở máy cho hàng trăm bệnh nhân; nghiên cứu tác dụng của gạo lật nảy mầm với giảm đường máu và mỡ máu cho bệnh nhân tiểu đường có hội chứng chuyển hóa; xây dựng mô hình bổ sung nhân tạo làm nhạt hóa nước ngầm cung cấp nước cho công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn.

KH và CN cũng góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; văn hóa, giáo dục - đào tạo, an ninh, quốc phòng và các lĩnh vực khác. Công tác quản lý nhà nước về KH và CN có nhiều đổi mới, hiệu quả quản lý được nâng cao trên tất cả các lĩnh vực. Công tác sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân bảo đảm tuân thủ các quy định của nhà nước, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, hạn chế công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường; thị trường KH và CN bước đầu được hình thành. Hoạt động sàn giao dịch công nghệ và thiết bị đã góp phần thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường công nghệ. Công tác tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng từng bước được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Công tác thanh tra, xử lý vi phạm tập trung vào lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm theo chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh. Công tác thông tin và thống kê KH và CN được duy trì thường xuyên nhằm tuyên truyền, phổ biến, thống kê và lưu giữ các kết quả nghiên cứu, chuyển giao thành tựu KH và CN, các tiến bộ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Bên cạnh những thành quả đạt được, KH và CN của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn cần khắc phục, cụ thể là một số văn bản về công tác quản lý đề tài, dự án KH và CN chưa được bổ sung sửa đổi phù hợp với Luật Khoa học và Công nghệ; việc đổi mới công nghệ, thiết bị trong các doanh nghiệp còn chậm; sản phẩm công nghệ cao còn ít, chưa có nhiều sản phẩm đạt trình độ quốc gia và khu vực; chất lượng, tính hiệu quả, đột phá của một số đề tài, dự án chưa cao; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, tồn tại; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong ứng dụng, nhân rộng kết quả KH và CN; tiềm lực KH và CN chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị; đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động KH và CN của tỉnh còn thấp so với yêu cầu thực tiễn; thị trường công nghệ còn sơ khai, nhiều doanh nghiệp chưa biết về sàn giao dịch thiết bị và công nghệ của tỉnh; số doanh nghiệp thành lập quỹ phát triển KH và CN còn ít.

Năm 2017, nhiệm vụ KH và CN sẽ bám sát chiến lược phát triển KH và CN quốc gia giai đoạn 2015 - 2020, đề án phát triển KH và CN của tỉnh giai đoạn 2016 - 2020, định hướng tới năm 2030, chương trình hành động của Tỉnh ủy và kế hoạch hành động của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa XI) về phát triển KH và CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Trước mắt, tập trung nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các quyết định về cơ chế, chính sách trong lĩnh vực KH và CN. Các nhiệm vụ KH và CN có sự hỗ trợ kinh phí của nhà nước phải bảo đảm tính mới, sáng tạo, tiên tiến về công nghệ. Tập trung ưu tiên vào ứng dụng và chuyển giao, phổ biến, nhân rộng các tiến bộ KH và CN vào sản xuất, đời sống. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về KH và CN. Ðổi mới việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu KH và CN; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và trình độ cho cán bộ quản lý; tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển KH và CN phù hợp với điều kiện đặc thù của tỉnh, tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên các chương trình phát triển, đổi mới công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KH và CN để phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng. Tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp và người sản xuất, đưa ứng dụng KH và CN vào thực tiễn. Ðẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ KH và CN phục vụ xây dựng nông thôn mới. Xây dựng cơ chế tăng cường vai trò phản biện, giám định xã hội của liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý nhà nước về KH và CN.

Lê Tiến Ninh (Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ)
® Bản quyền thuộc Sở Khoa học Công nghệ Tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: 36A – Phố Quang Trung – thành phố Thái Bình – tỉnh Thái Bình
Điện thoại: (036)3831 333 – Fax: (036) 3834092   Email: trungtamkhcntb@gmail.com